Giải đáp một số thắc mắc hiện nay về vaccine Pfizer và vaccine AstraZeneca

So với vaccine AstraZeneca thì các phản ứng đau tại chỗ và mệt mỏi sau tiêm vaccine Pfizer nhiều hơn. Tuy nhiên các triệu chứng như sốt và rối loạn tiêu hoá sau tiêm vaccine AstraZeneca lại nhiều hơn sau tiêm vaccine Pfizer.

1. Phản ứng sau tiêm của vaccine Pfizer có gì khác so với vaccine AstraZeneca?

Phản ứng sau tiêm của vaccine Pfizer: 

Những phản ứng bất lợi thường gặp nhất ở trẻ vị thành niên từ 12 đến 15 tuổi là đau tại vị trí tiêm (> 90%), kiệt sức và đau đầu (> 70%), đau cơ và ớn lạnh (> 40%), đau khớp và sốt (> 20%).

Các phản ứng bất lợi ở những người tham gia từ 16 tuổi trở lên là đau tại vị trí tiêm (>80%), kiêṭ sức (> 60%), đau đầu (> 50%), đau cơ và ớn lạnh (> 30%), đau khớp (> 20%), sốt và và thường có cường độ nhẹ hoặc vừa và khỏi trong vòng một vài ngày sau khi tiêm vaccine. Tần suất của các biến cố sinh phản ứng hơi thấp hơn ở lứa tuổi cao hơn.

Các phản ứng ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100) bao gồm:

+ Nổi hạch

+ Các phản ứng quá mẫn (ví dụ: phát ban, ngứa, ban, mày đay, phù mạch)

+ Mất ngủ

+ Đau chi

+ Khó chịu; ngứa tại vị trí tiêm

Phản ứng sau tiêm của vaccine AstraZeneca:

Các phản ứng ngoại ý thường được ghi nhận là nhạy cảm đau chỗ tiêm (> 60%); đau chỗ tiêm, nhức đầu, mệt mỏi (> 50%); đau cơ, khó chịu (> 40%); sốt, ớn lạnh (> 30%); và đau khớp, buồn nôn (> 20%). Phần lớn các phản ứng ngoại ý ở mức độ nhẹ đến trung bình và thường hết vài ngày sau khi tiêm. Đến ngày thứ 7, tỷ lệ các đối tượng có ít nhất một phản ứng tại chỗ hoặc toàn thân tương ứng là 4% và 13%. Khi so sánh với liều đầu tiên, các phản ứng ngoại ý được báo cáo sau liều thứ hai nhẹ hơn và ít xảy ra hơn.

Các phản ứng ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100) bao gồm:

+ Nổi hạch

+Giảm cảm giác thèm ăn

+ Chóng mặt

+ Đau bụng

+ Tăng tiết mồ hôi; ngứa tại vị trí tiêm

Như vậy, so với vaccine AstraZeneca thì các phản ứng đau tại chỗ và mệt mỏi sau tiêm vaccine Pfizer nhiều hơn. Tuy nhiên các triệu chứng như sốt và rối loạn tiêu hoá sau tiêm vaccine AstraZeneca lại nhiều hơn sau tiêm vaccine Pfizer.

Biến chứng thuyên tắc huyết khối kèm theo giảm tiểu cầu sau khi tiêm vaccine AstraZeneca có tỷ lệ 4,6/1 triệu liều tiêm thứ nhất. Còn với vaccine Pfizer, tỷ lệ này là 0,2/1 triệu liều tiêm thứ nhất. 

2. Người đã tiêm vaccine AstraZeneca mũi đầu tiên, mũi 2 tiêm vaccine Pfizer có được không? Nếu có thì khoảng cách giữa 2 mũi là bao lâu?

Liên minh toàn cầu về vaccine và tiêm chủng (GAVI), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đang xem xét đồng thuận về việc chuyển đổi giữa các loại vaccine khác nhau trong một liệu trình tiêm chủng vaccine COVID-19: đó không chỉ là sử dụng vaccine do hai hãng khác nhau sản xuất, mà còn là phối hợp hai cách kích hoạt phản ứng miễn dịch khác nhau do công nghệ bào chế vaccine khác nhau vì vậy có thể đạt hiệu lực bảo vệ tốt hơn đồng thời tăng khả năng chống lại các biến thể của virus SARS-CoV-2.

Đến tháng 6 năm 2021, các nghiên cứu và khuyến nghị từ Uỷ ban Tiêm chủng Quốc gia của Canada và một số quốc gia Châu Âu (Tây Ban Nha, Đức, Anh...): những người đã tiêm vaccine AstraZeneca liều đầu tiên có thể tiêm được vaccine mRNA (Pfizer, Moderna) cho liều thứ hai, trừ khi có chống chỉ định. Tuỳ theo nghiên cứu, khoảng cách thời gian tối thiểu giữa 2 liều vaccine AstraZeneca – vaccine Pfizer có thể ngắn là 4 tuần hoặc có nghiên cứu ghi nhận là 8-12 tuần. Tuy nhiên theo các nghiên cứu khi phối hợp giữa 2 vaccine COVID-19 với nhau, khoảng thời gian giữa 2 liều vắc xin càng cách xa nhau (8 hoặc 12 tuần) dường như sẽ giảm được các phản ứng phụ thường gặp sau tiêm chủng nhiều hơn khoảng thời gian ngắn (4 tuần).

3. Người đã tiêm đủ 2 mũi vaccine AstraZeneca có cần tiêm thêm 1 mũi vaccine Pfizer hay không?

Hiện nay, không có khuyến cáo chính thức nào từ WHO, CDC Hoa Kỳ về việc tiêm thêm một mũi nhắc lại sau khi hoàn tất đủ 2 mũi vaccine COVID-19. Việc theo dõi hiệu lực bảo vệ kéo dài của vaccine cho thấy thời gian bảo vệ lên đến 6 – 12 tháng. Thực tế những trường hợp bệnh nặng nhập viện và tử vong do COVID-19 đều là những người chưa được tiêm vaccine. Trong nỗ lực đẩy nhanh chiến dịch tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 và nguồn lực vaccine còn nhiều hạn chế trên thế giới, vaccine hiện nay vẫn được chỉ định với lịch tiêm tiêu chuẩn.

4. Những lưu ý khi tiêm vaccine Pfizer tại Việt Nam? 

Vaccine COVID-19 Pfizer – BioNTech được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vắc xin cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Quyết định 2908/QĐ-BYT ngày 12/6/2021.

Bảo quản vaccine ở tuyến Quốc gia ở nhiệt độ âm sâu -90⁰C đến -60⁰C cho đến khi hết hạn sử dụng 6 tháng của vaccine; bảo quản và tiêm chủng vaccine ở tuyến tỉnh - huyện - điểm tiêm chủng ở nhiệt độ 2⁰C đến 8⁰C trong thời gian không quá 31 ngày.

Vaccine ở dạng hỗn dịch đậm đặc pha tiêm. Mỗi lọ chứa 6 liều, tương đương 0,45 ml sau pha với 1,8 ml dung dịch pha loãng. Dung dịch dùng để pha loãng vaccine là dung dịch nước muối sinh lý NaCl 9‰.

Vaccine hiện được chỉ định cho người từ 18 tuổi trở lên. Trong thời gian sắp tới, độ tuổi được chỉ định tiêm sẽ được cập nhật theo nguồn lực vắc xin của Việt Nam.

Đường tiêm: tiêm bắp. Liều lượng: 0,3 ml.

Lịch tiêm: 2 mũi cách nhau từ 3 đến 4 tuần

Khuyến cáo hiện nay của Bộ Y tế Việt Nam là sử dụng cùng loại một loại vaccine phòng COVID-19 để  tiêm đủ 2 liều cho cùng một đối tượng.

5. Người có bệnh mãn tính (như rối loạn đông máu, tăng huyết áp, thoái hoá khớp...) thì có thể tiêm vaccine Pfizer được không?

Các đối tượng có bệnh lý có bệnh nền, bệnh mạn tính được điều trị ổn định phải được khám sàng lọc kỹ và cần được tiêm chủng vaccine COVID-19 tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế có đủ năng lực hồi sức cấp cứu ban đầu. Bạn không được tự ý ngừng thuốc đang điều trị vì lý do tiêm vaccine COVID-19, và ngày đi tiêm vaccine bạn cần đem toa thuốc và bệnh án đang điều trị để được bác sĩ tư vấn cụ thể.

Theo SKĐS
Chia sẻ trên Zalo
return to top